Ngày đăng: 14/08/2026

Đà Nẵng dưới góc nhìn phong thủy — tư liệu của nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo

📜 Tư liệu quý về Đà Nẵng
Bài đăng lại từ Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng (chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi, tr. 75–77). Tác giả: Lê Văn Hảo — nhà nghiên cứu, TP Đà Nẵng. Ảnh trong bài: Phạm Văn Thanh. FIRHOUSE xin phép đăng lại nguyên văn để lưu giữ và chia sẻ, giữ trọn quyền tác giả của người viết và người chụp ảnh.

Một bài nghiên cứu cũ nhưng đọc lại vẫn thấy hay: tác giả Lê Văn Hảo nhìn Đà Nẵng qua lăng kính phong thủy cổ truyền, từ thế núi – thế sông đến nguồn gốc các làng xưa và vị thế của thành phố trên bản đồ đất nước. Với người làm bất động sản, đây là cách hiểu sâu vì sao Đà Nẵng có được vị thế "tựa núi, hướng sông, nhìn biển" mà không phải nơi nào cũng có. Xin trân trọng giới thiệu.

Ảnh tư liệu — trang 75, bài “Đà Nẵng với tầm nhìn phong thủy”, Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng. Ảnh trong bài: Phạm Văn Thanh
Ảnh tư liệu — trang 75, bài “Đà Nẵng với tầm nhìn phong thủy”, Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng. Ảnh trong bài: Phạm Văn Thanh

Từ vầng trăng Đồng Long đến định nghĩa "phong tàng thủy tụ"

Trong quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam, khi mang quân đi đánh Chiêm Thành vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã dừng chân trên đèo Hải Vân. Đêm khuya thanh vắng, phong cảnh hữu tình, nhà vua ngắm trăng trên đỉnh Hải Vân Sơn, rồi nhìn xuống vịnh Sơn Trà và làm hai câu thơ:

Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt.
Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền.
(Đêm khuya trăng rọi Đồng Long. Thuyền buôn Lộ Hạc gió ròng canh thâu)

Từ thuở ấy, vịnh Sơn Trà (còn gọi là Vũng Thùng) đã đón nhận thuyền buôn của các thương nhân đến từ các nước trong vùng Đông Nam Á và sau này là các thương nhân từ Ấn Độ, Trung Hoa, Pháp, Tây Ban Nha... đến buôn bán, giao thương.

Sách Địa lý Tả Ao định nghĩa phong thủy là "phong tàng thủy tụ", nghĩa là nơi "gió ẩn, nước tụ". Thuật phong thủy của tiền nhân xem xét địa lý theo hai lĩnh vực: dương cơâm trạch. Dương cơ dành cho phần đất làm nhà ở, đình, chùa, dinh thự, doanh trại, thị trấn, thành phố, thủ đô... Âm trạch dành cho phần đất mồ mả, lăng tẩm..., là phần dành cho người đã khuất.

Một thế đất tốt, đất kết dù là dương cơ hay âm trạch đều phải hội đủ các điều kiện như Tả Ao diễn tả: "Muốn cho con cháu sống lâu. Tìm nơi huyền vũ đằng sau cao dày. Muốn cho con cháu phát giàu. Dưới chân Minh đường nước tụ quanh năm".

Thế đất Đà Nẵng: huyền vũ tựa lưng, minh đường trước mặt

Thành phố Đà Nẵng, huyền vũ ở phía sau lưng có nhiều núi non từ thấp lên cao để tựa thế: từ Đại La, Phước Tường, cho đến Bà Nà – Núi Chúa và cuối cùng là dãy Trường Sơn hùng vĩ; còn minh đường ở phía trước mặt chính là Vũng Thùng: "Từ ngày Tây lại Vũng Thùng. Đào sông lấp đá ngăn dòng nước sâu".

Tay mặt là bạch hổ có Ngũ Hành Sơn tọa lạc tròn trịa không cao lắm, ảnh hưởng cho phái nữ. Tay trái là thanh long có Hải Vân Sơn cao vút, ảnh hưởng cho phái nam. Trước mặt thành phố Đà Nẵng có án sa là núi Sơn Trà, tấm bình phong chắn gió. Đối xứng với núi Sơn Trà là núi Đại La, Phước Tường là bức tường thành ngăn gió Lào, gió Tây. Cho nên núi Đại La được cụ Tứ khoa Tú tài Trần Nhật Tĩnh viết trong tác phẩm Hòa Vang huyện chí là "Phong Độn Đại La".

Núi Đại La, Phước Tường không những ngăn được gió Lào mà còn ngăn chặn nước lũ từ Trường Sơn đổ về biển Đông. Nhờ dãy núi này mà nước lũ không đổ trực tiếp vào trung tâm Đà Nẵng mà tạo nên hai dòng chảy bao quanh: một dòng từ sông Vu Gia chảy về sông Cẩm Lệ, qua sông Hàn; một dòng từ Trường Sơn chảy về sông Cu Đê, qua cửa Nam Ô. Sau cùng, cả hai dòng lũ này đều chảy ra vịnh Đà Nẵng.

Theo sách Hồng Vũ Cấm Thư, có bốn thế đất kết là: Oa – Kiềm – Nhũ – Đột. Sách Địa lý vi sư pháp định nghĩa kết oa như sau: "Oa là lõm xuống như lòng chảo mà hai bên thì cao che gió cho hình thế đất... hai bên cao che gió cho huyệt trường thì chỗ đó gọi là oa".

Sông Cu Đê và sông Hàn tựa như hai con rồng chầu vào thành phố Đà Nẵng tạo thành hình thế "Song long nhiễu nguyệt" (Hai con rồng chầu vào mặt trăng). Do vậy mà vua Lê Thánh Tông đã gọi vịnh Đà Nẵng là Đồng Long.

Ảnh tư liệu — trang 76. Ảnh Ngũ Hành Sơn trong bài: Phạm Văn Thanh
Ảnh tư liệu — trang 76. Ảnh Ngũ Hành Sơn trong bài: Phạm Văn Thanh

"Đất bồi thì ở" — nguồn gốc những làng xưa của Đà Nẵng

Người xưa cũng có câu "Đất bồi thì ở, đất lỡ thì đi". Thật vậy, nếu đi tìm ngữ nguyên ngữ nghĩa địa danh, làng xưa nhất của Đà Nẵng chính là làng Nại Hiên. Nại Hiên nghĩa là cái tiền đình hứng chịu gió cát mưa bão từ khơi xa thổi vào. Những trận mưa bão mùa đông làm trôi chài đất đá dãy núi phía tây chảy ra ven sông Hàn liền bị gió cát nắng hạn từ trùng dương thốc vào, phủ lấp lên. Làng Thạch Than định hình trong ý nghĩa đá đất và nước ấy.

Nếu thế kỷ XVII là thời kỳ cực thịnh của thương cảng Hội An, thì từ giữa thế kỷ XVIII, khi những cánh thuyền buồm nhường chỗ cho các con tàu chạy bằng hơi nước, thương cảng Hội An bắt đầu đi xuống và sự tấp nập sầm uất của thương cảng Đàng Trong đã chuyển ra Cửa Hàn – Đà Nẵng, do cửa khẩu này hội đủ các điều kiện an toàn thuận lợi cho những con tàu vận hành bằng cơ khí. Cảng Đà Nẵng nằm trong vịnh nước sâu, dễ cho tàu viễn dương cập sát bến, lại có núi bao bọc che chở gió mùa đông bắc.

Người Minh Hương lục tục rời phố cổ; một số Hoa thương đã di cư vĩnh viễn ra Đà Nẵng, thành phố đầy tương lai. Những làng đầu tiên tạo nên diện mạo của Đà Nẵng sau này gồm: Nại Hiên, Thạch Than, Nam Dương, Thạc Gián, Hải Châu.

Thạc Gián có nghĩa là "con suối hay khe lớn phát nguyên giữa hai trái núi đá". Nghiên cứu địa lý lịch sử cho thấy từ nhiều ngàn năm biển còn ngự trị bao bọc chân núi Phước Tường. Trong quá trình "thương hải biến vi tang điền" (biển xanh hóa nương dâu), nước biển rút dần để lộ cát ra thành cồn, còn lưu dấu hai dòng thủy đạo chảy từ núi Phước Tường ra biển: Thanh Khê và Thạc Gián. Làng xưa Hải Châu cũng phô diễn ý nghĩa xứ ở trong điều kiện biển hóa nên cồn.

Đà Nẵng — hành lang vươn ra Thái Bình Dương, điểm "lưỡng nghi"

Nhìn tổng thể, thành phố Đà Nẵng là hành lang vươn ra Thái Bình Dương, với điểm nhô ra biển nhiều nhất nằm trên đường cong hình chữ S của bản đồ Việt Nam. Dọc tuyến bờ biển, bắt đầu từ phía nam có núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn) tọa lạc trấn thủ, tiếp đến là núi Sơn Trà bao bọc ở phía đông, giáp với núi Hải Vân ở phía bắc; tất cả tạo nên tấm bình phong ngăn chặn các đợt gió mùa đông bắc, gió chướng thổi vào. Cảng Đà Nẵng được xây dựng là nhờ vị trí thiên nhiên ưu đãi này.

Một điểm đáng chú ý: hình thế địa lý nước Việt Nam giống như vạch phân định "lưỡng nghi" (âm – dương) trong đồ hình Bát quái. "Cực âm chí dương", "cực động chí tịnh", "cực suy chí thịnh" và ngược lại... Những gì xảy ra trên thế giới đến điểm chí cực thì đến Việt Nam bị đảo ngược. Đà Nẵng nằm trên cái trục của lưỡng nghi, làm nên điểm then chốt gánh vác hai đầu là hai thành phố lớn của Tổ quốc: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Niềm tự hào của Đà Nẵng nằm trên con đường di sản UNESCO: Phong Nha – Huế – Hội An – Mỹ Sơn; bãi biển Mỹ Khê được tạp chí Forbes (Mỹ) bình chọn là một trong 5 bãi biển đẹp nhất thế giới với vẻ đẹp thiên phú, núi cao vun vút, biển xanh bất tận, sông dài ấm áp.

Ảnh tư liệu — trang 77, kèm phần Chú thích và Tài liệu tham khảo. Ảnh “Trên đỉnh Bà Nà” trong bài: Phạm Văn Thanh
Ảnh tư liệu — trang 77, kèm phần Chú thích và Tài liệu tham khảo. Ảnh “Trên đỉnh Bà Nà” trong bài: Phạm Văn Thanh

Giữ lấy Sơn Trà và Đại La — hai lá phổi xanh của thành phố

Núi Sơn Trà là án sa phía đông, núi Đại La là huyền vũ phía tây của Đà Nẵng. Đây cũng là hai lá phổi xanh của thành phố. Cả hai nơi này cần được bảo vệ, không cho khai phá bừa bãi, phá núi, khai thác đất đá, cây cối, hủy hoại môi trường sinh thái. Đặc biệt, núi Sơn Trà là điểm chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng, cần nắm quyền chủ động kiểm soát.

Mở mang thành phố Đà Nẵng về mọi mặt là điều ai cũng mong muốn, nhưng phát triển thế nào cho đồng bộ, có sách lược lâu dài bền vững, không thể vì quyền lợi trước mắt, vì cái lợi nhỏ chạy theo kinh tế thị trường mà đánh mất cái căn bản, để rồi tự hủy diệt chính mình. — L.V.H.

Chú thích của tác giả

  1. Đồng Long là tên cũ của vịnh Sơn Trà.
  2. Thuyền buôn Lộ Hạc ám chỉ thuyền của các nước Đông Nam Á đến buôn bán đang đậu trong vịnh Sơn Trà.
  3. Kỉnh Thảo, "Phố cảng Đà Nẵng trong tiến trình lịch sử", in trong Đà Nẵng bước vào thế kỷ 21 (Báo Đà Nẵng chủ biên; NXB Văn nghệ TP.HCM, 2000), tr. 57. Nguyên thủy tên làng là Thạch Than; về sau đọc trại thành Thạch Thang.
  4. Nguyễn Sinh Duy, "Khảo về danh xưng Đà Nẵng", sđd, tr. 44. Âm của hai chữ là Thạc Giản; về sau đọc trại thành Thạc Gián.
  5. Nguyễn Sinh Duy, "Khảo về danh xưng Đà Nẵng", sđd, tr. 45.

Tài liệu tham khảo (theo bài gốc)

Cao Trung, Dã đàm Tả Ao; Địa lý Đại toàn; Địa lý Tả Ao; Địa lý trị soạn phú; Địa lý vi sư pháp (California: Xuân Thu). — Dương Quân Tùng, Hồng Vũ Cấm Thư (Sài Gòn: Bộ Quốc gia Giáo dục, 1962). — Kỉnh Thảo, "Phố cảng Đà Nẵng trong tiến trình lịch sử", trong Đà Nẵng bước vào thế kỷ 21 (NXB Văn nghệ TP.HCM, 2000), tr. 56–64. — Lê Văn Hảo, "Một cái nhìn địa lý về phía Tây Đà Nẵng", Đà Nẵng Cuối tuần, số 1619 (3/11/2002). — Nguyễn Phúc Vĩnh Tung, Phong thủy với cuộc sống hôm nay; Phong thủy, bí quyết để thành công (California: Ana Real Estate & Ana Funding, 2001). — Nguyễn Sinh Duy, "Khảo về danh xưng Đà Nẵng", sđd, tr. 38–47. — Quảng Tuệ, "Phong thủy nhà hàng khách sạn", Thế giới mới, số 680 (10/4/2006), tr. 73. — Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, 5 tập (Huế: Thuận Hóa, 1992). — Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch (Hà Nội: Văn hóa Thông tin, 1996). — Trần Nhật Tĩnh, Hòa Vang huyện chí (bản chép tay chữ Hán, 1868).

Nguồn bài viết: Bài đăng lại từ Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng (chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi, tr. 75–77). Tác giả: Lê Văn Hảo — nhà nghiên cứu, TP Đà Nẵng. Ảnh trong bài: Phạm Văn Thanh.
Bài được FIRHOUSE số hóa và đăng lại nhằm mục đích lưu giữ, chia sẻ tư liệu, phi thương mại. Bản quyền nội dung thuộc về tác giả Lê Văn Hảo và Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng; bản quyền ảnh thuộc về nhiếp ảnh gia Phạm Văn Thanh. Nếu quý tác giả/đơn vị giữ bản quyền có yêu cầu, chúng tôi sẵn sàng chỉnh sửa hoặc gỡ bỏ.
Bài viết khác